384

Vùng phía Bắc Quốc lộ 1A, tỉnhBạc Liêu có diện tích tự nhiên 157.224 ha. Trong đó, diện tích nuôi trồng thủysản khoảng 70.230 ha (chiếm hơn 50% diệntích NTTS toàn tỉnh). Với đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên vàmôi trường, vùng chuyển đổi này chủ yếu bố trí sản xuất theo mô hình tôm - lúa,phần diện tích còn lại được bố trí sản xuất theo hình thức nuôi quãng canh cảitiến kết hợp.

Mô hình tôm - lúa được NghànhNông nghiệp đánh giá là một trong những mô hình sản xuất hiệu quả và bền vững ởvùng chuyển đổi, là mô hình sản xuất ít tác động xấu tới môi trường, mức đầu tưphù hợp với đa số các hộ nông dân trong vùng và thích ứng với điều kiện biến đổikhí hậu hiện nay. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả sản xuất  thấy rằng chưa thật sự tương xứng với tiềmnăng lợi thế sẵn có của vùng, nhất là ở vụ nuôi tôm. Có rất nhiều nguyên nhân dẫnđến tình trạng trên (i) chưa có đủ tiềmlực đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục nuôi tôm và trồng lúa, nhiềutiểu vùng còn thiếu và bị động nguồn nước ngọt phục vụ trồng lúa chủ yếu phụthuộc thời tiết (ii) nông dân có sự đồngthuận cao về chủ trương nhưng vẫn còn sản xuất theo lối truyền thống (iii) chưa áp dụng tốt quy trình kỹ thuật,chủ yếu vẫn canh tác theo tập quán cũ, một bộ phận thiếu vốn đầu tư... Bên cạnh,nguồn tôm giống chất lượng chưa được người dân quan tâm, môi trường nước cónguy cơ ô nhiễm, bệnh dịch trên tôm nuôi xảy ra ngày càng nhiều và tần suất gầnhơn, một số tiểu vùng sản xuất chú trọng con tôm nhiều hơn cây lúa, nên hiệu quảkinh tế trung bình của mô hình này nhiều năm qua còn thấp so với tiềm năng,nguy cơ rủi ro do bệnh dịch, sâu hại cao.

Các dự án do Quỹ Môi trường toàn cầu Chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại ViệtNam (UNDP/GEF-SGP) tài trợ từ năm 2009 đến nay triển khai tại huyện Hồng Dân vàhuyện Phước Long đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân lên một bước mới,làm giảm thiểu rủi ro do bệnh dịch, hạn chế tổn thương do hạn hán, xâm nhập mặnvà tác động bất lợi của biến đổi khí hậu tới cộng đồng thông qua ứng dụng cácgiải pháp tổng hợp để bảo tồn, phát triển bền vững giống lúa mùa bản địa (Một bụi đỏ) và phát triển giống lúa chấtlượng cao (ST24, ST25) chịu phèn, mặnvà khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả hệ sinh thái nước lợ thích ứng với biếnđổi khí hậu thông qua xây dựng mô hình trình diễn tôm - lúa.

Dự án thực hiện đãrất phù hợp với nguyện vọng chính đáng của cộng đồng dân cư và chương trình mụctiêu phát triển kinh tế của địa phương trong việc đẩy mạnh công tác ứng dụng tiếnbộ khoa học kỹ thuật kết hợp với phát triển kinh nghiệm bản địa, áp dụng các biệnpháp canh tác tôm - lúa theo hướng bền vững, hiệu quả, đồng thời sử dụng hiệuquả tài nguyên đất, nước và đa dạng sinh học cho vùng đất nhiễm phèn, mặn có sựtranh chấp mặn ngọt trong quản lý nước, nơi dễ bị tổn thương nhất do ảnh hưởngnghiêm trọng của hạn hán và xâm nhập mặn đến sinh kế của người dân.

Thànhcông bước đầu của các dự án khá thuyếtphục, được nông dân, cán bộ địa phương đồng thuận cao, cộng đồng đã bắt đầu thay đổi một số khâu trong tập quán canh tác cũ củamình như: bố trí lại công trình sản xuất hợp lý, áp dụng ương gièo tôm giaiđoạn đầu trước khi đưa ra vuông nuôi, sử dụng men vi sinh để quản lý môi trườngnước, thả tôm mật độ phù hợp với điều kiện kinh tế hộ; giảm mật độ sạ lúa, bón phân hữu cơ vi sinh, giảmlượng phân N, bón cân đối giữa phân N : P : K, và chuyển hướng sử dụngthuốc BVTV sang sử dụng một phần thuốc trừsâu bệnh sinh học,đây là tiền đề, làcơ sở khoa học để chuyển giao nhân rộng cho cộng đồng trên vùng canh tác tôm - lúacủa tỉnh Bạc Liêu trong các năm tiếp theo.  

Trên cơ sở kết quả thực hiện các dự án, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bạc Liêu, Trưởng Nhómchuyên gia các dự án Khuyếnnghị một số chính sách đối vớimô hình tôm – lúa vùng phía Bắc Quốc lộ 1A để mô hình này phát triển bền vững,hiệu quả, đạt mục tiêu định hướng quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, diêmnghiệp và thủy sản của tỉnh đến năm 2030.

1. Có chính sách hỗ trợ đầu tưcải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi cho vùng tôm - lúa theohướng các ô đê bao khép kín, ưu tiên các khu vực đê bao vừa và nhỏ, kết hợp tusửa, nâng cấp các kênh mương nội đồng và trạm bơm để đảm bảo cấp, thoát nước vàtrữ nước mặn, ngọt một cách linh hoạt, kịp thời cho nuôi tôm và trồng lúa tronghoàn cảnh nguồn lực chưa đủ mạnh; thiết lập cơ chế quản lý tài nguyên nước dựatrên cộng đồng để sản xuất tôm - lúa bền vững.

2. Quyhoạch, quản lý và hỗ trợ cơ sở sản xuất, kinh doanh tôm giống, lúa giống tậptrung để đảm bảo cung cấp giống đạt tiêu chuẩn chất lượng. Tiếp tục hỗ trợ phụctráng giống lúa mùa bản địa (Một bụi đỏHồng Dân) đồng thời thử nghiệm, nhân rộng các giống lúa chất lượng cao,chịu phèn, mặn tốt như ST24, ST25 trên vùng chuyển đổi của địa phương.

3. Hỗ trợthành lập,cũng cố, nâng cấp các THT/HTX để có đủ năng lực tổ chức quản lý sản xuất tôm –lúa bền vững – hiệu quả; nâng cao năng lực tài chính của các THT/HTX thông quachính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn tại địa phương.

4. Mặc dù hiện nay trình độ sản xuất của nông dân đã được nâng lên đáng kể,song trước diễn biến phức tạp của thời tiết do ảnh hưởng của biến đổi khí hậugây ra, tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, bệnh dịch, sâu hại đã, đang ảnh hưởng ngàycàng phức tạp đến sản xuất nông nghiệp. Do đó, cần có chính sách ưu tiên đểphát triển nguồn nhân lực kỹ thuật tại chỗ như:

- Đào tạo,đào tạo lại nguồn nhân lực kể cả cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý để đáp ứngyêu cầu đòi hỏi trong tình hình mới, góp phần từng bước “trí thức hóa nôngdân”. 

- Hỗtrợ đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, phát huy vai trò nông dân nòng cốt nhưng không chỉ dừng lại ở kỹ năng, kỹ thuật sản xuất mà cần mở rộng racác kỹ năng phối hợp tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc áp dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

- Tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, các cuộc hội thảo để nông dân có cơ hội traođổi, truyền đạt kinh nghiệm với nhau và các nhà khoa học giải đáp và bổ sungthêm kiến thức sản xuất cho họ.

5. Hỗ trợ tưvấn, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị tôm - lúa thông qua việc cụ thể hóa Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kếtsản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp,các THT/HTX và người dân hợp tác phát triển một cách hiệu quả, bền vững.

6. Trêncơ sở Quy trình kỹ thuật sản xuất mô hình tôm - lúa đã xây dựng từ kết quả củacác dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh và được nghiệm thu phê duyệt, Ủy ban nhân dân cáchuyện vùng phía Bắc Quốc lộ 1 A của tỉnh cần bổ sung nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện mô hình tôm - lúa cho Ban chỉ đạo huyện:

- Chỉ đạo các đoàn thể phân công cán bộ cơ sở giám sát,vận động, hướng dẫn nông dân tích cực tham gia xây dựng mô hình theo hướng dẫncủa Ngành chuyên môn; tổng kết, đánh giá hiệu quả của mô hình và tiếp tục chỉđạo nhân rộng mô hình cho các năm tiếp theo, từng bước hình thành vùng nguyênliệu có thương hiệu chất lượng cao “tôm sạch, lúa an toàn” trên địa bàn huyện,phụcvụ nhu cầu người tiêu dùng và xuất khẩu.

- Chỉ đạo Phòng nông nghiệp & PTNT huyện bố trí cánbộ trực tiếp tham gia chỉ đạo, triển khai xây dựng mô hình; chỉ đạo cơ quanthông tin truyền thông trên địa bàn huyện tuyên truyền, phổ biến khoa học kỹthuật của mô hình, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vềsản xuất, tiêu thụ tôm, lúa; nêu gương điển hình tiên tiến để khuyến khích, vậnđộng nông dân triển khai nhân rộng mô hình cho cộng đồng trong vùng.

7. Có chính sách đầu tư quản lý, quyhoạch phát triển vùng tôm - lúa phù hợp với điều kiện thực tại. Đồng thời, cócác chính sách hỗ trợ thử nghiệm các mô hình sản xuất tôm - lúa theo hướng tôm sạch, lúa antoàn có truy xuất nguồn gốc, tiến tới xây dựng thương hiệu cho sản phẩm tôm -lúa đạt tiêu chuẩn O.COP nhằm nâng cao giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích, góp phần phát triển bềnvững hệ thống canh tác tôm - lúa tại  BạcLiêu nói riêng và khu vục Đông Bằng Sông Cửu Long nói chung./.

Nguyễn Văn Hưng - Trung tâm Khuyến nông

Những vấn đề cần quan tâm trong hoạt động khuyến nông tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới